Sáng ngày 7/3/2026, nhận lời thỉnh mời của Thượng tọa Trụ trì Thích Đạo Thịnh, Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm – Phó chủ tịch HĐTS, Trưởng Ban Hoằng pháp TW, Trưởng BTS GHPGVN Thành phố Hà Nội đã quang lâm về chùa Khai Nguyên (xã Đoài Phương, Hà Nội), thuyết giảng cho gần 10.000 Phật tử về “10 Phổ môn thị hiện – Hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm” trong chương trình Khai mạc Pháp hội Quán Âm Tam Thời Hệ Niệm.
Được biết, Pháp hội sẽ được diễn ra trong 9 ngày, từ ngày 07-15/03/2026 (tức 19 đến 27 tháng Giêng năm Bính Ngọ).



Mở đầu thời pháp, Hòa thượng bày tỏ niềm hoan hỷ khi trở lại đạo tràng Chùa Khai Nguyên trong ngày đầu xuân, đồng thời tán thán cảnh chùa trang nghiêm, đạo tràng thanh tịnh cùng tinh thần tu học và lòng tín kính Tam bảo của đông đảo Phật tử hiện diện nơi đây. Theo Hòa thượng, Pháp hội này vô cùng ý nghĩa bởi ngày 19 âm lịch là con số gắn liền với ba ngày kỷ niệm trọng đại của Bồ Tát Quán Thế Âm: ngày Đản sinh (19/02), ngày Thành đạo (19/06) và ngày nhập Niết bàn (19/09). Trong nhiều kinh điển Đại thừa, hình ảnh các Đức Phật thường hiện diện cùng hai vị Bồ Tát thị giả. Đức Phật biểu trưng cho trí tuệ giác ngộ viên mãn, là nguồn năng lượng an lành và cát tường; còn hai vị Bồ Tát thị giả là những bậc trợ duyên, thể hiện các hạnh nguyện hộ trì, hỗ trợ để ánh sáng giác ngộ lan tỏa khắp thế gian.


Trong phẩm Phổ Môn thứ 25 của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, cũng như trong nhiều kinh điển Đại thừa khác, hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm được tôn xưng như biểu tượng cao đẹp của lòng từ bi cứu khổ.
Tại các quốc gia Á Đông như Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…, Ngài được nhân dân đặc biệt tôn kính và tưởng niệm qua ba ngày lễ trọng đã nêu trên.
Với đại nguyện “cứu âm độ dương”, Bồ Tát lắng nghe mọi tiếng kêu khổ của chúng sinh bằng nhĩ căn viên thông, hiện thân nghìn mắt để quán chiếu, nghìn tay để cứu giúp, biểu trưng cho lòng từ bi vô hạn – như người mẹ hiền luôn dang rộng vòng tay che chở muôn loài. Lòng từ của Bồ Tát ban trải khắp nhân gian và thương chúng sinh một cách bình đẳng.
“Chính vì vậy, những pháp hội và khóa tu như hôm nay là cơ hội giúp đưa mỗi người nhìn thấu rõ, đưa tất cả về với Bồ Tát. Bồ Tát luôn ở trong tâm nếu chúng ta biết nhớ đến, biết tới. Vì chúng ta đang trong dòng sinh tử, trong thời cuộc lấy ngã chấp làm chính, lấy khổ đau làm chính” – Hòa thượng chia sẻ.



Qua đây, Hòa thượng sách tấn hàng Phật tử khi trở về chốn già lam, bước qua cổng chùa cũng chính là bước vào cửa đạo. Khi thành kính cúi đầu đỉnh lễ Tam bảo – Phật – Pháp – Tăng cũng là lúc buông xuống những phiền não, khổ đau, những niệm tham, sân, si của đời thường. Từ đó giữ gìn nụ cười hoan hỷ, nuôi dưỡng tâm nguyện thanh tịnh, lặng lẽ gột rửa mọi duyên trần, thành tâm hướng về Bồ Tát Quán Thế Âm, mong Ngài soi sáng và khơi dậy hạt giống từ bi nơi tự tâm mỗi người, để tìm thấy sự bình an trong đời sống.
Hòa thượng cũng nhấn mạnh “Trong phẩm Phổ Môn của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tán thán công hạnh của Bồ Tát Quán Thế Âm với tâm từ rộng lớn, luôn dùng “từ nhãn thị chúng sinh” – lấy đôi mắt từ bi để nhìn cuộc đời, lắng nghe và cảm thông trước mọi nỗi khổ đau của muôn loài. Sự vân tập của các Phật tử tại pháp hội này chính là năng lượng tu tập lớn để cùng nhau hồi hướng cho đất nước chấm dứt chiến tranh, đất nước phát triển hội nhập và toàn thể mọi người đều được bình an”.


Trong thời pháp thoại, Hòa thượng cũng giảng giải về ý nghĩa danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm và hạnh nguyện của Ngài qua phẩm Phổ Môn của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Theo đó, Bồ Tát Quán Thế Âm nhờ công đức tu tập sâu dày, từng hầu cận vô số chư Phật nên trí tuệ và từ bi đều viên mãn, được tôn xưng là bậc “viên thông giáo chủ, chính pháp đạo sư”. Từ tâm nguyện cứu khổ độ sinh, Ngài thị hiện hình tượng nghìn mắt, nghìn tay để lắng nghe và cứu giúp muôn loài. Các bậc Tổ sư cũng thường nhắc đến đại nguyện của Bồ Tát rằng: nếu còn một chúng sinh đau khổ chưa được cứu độ thì Ngài nguyện chưa thành Phật.
Hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm được thể hiện qua 10 cửa Phổ môn, dẫn dắt hành giả trên con đường tu tập. Ngôi Phổ môn bao gồm bốn cõi Thánh (Phật – Duyên giác – Bồ Tát – Thanh văn) và sáu cõi luân hồi (Trời – Người – A-tu-la – Địa ngục – Ngạ quỷ – Súc sinh).
Nhân đây, Hòa thượng đã giảng giải cho đại chúng hiểu sâu hơn về 10 cửa phổ môn. Đầu tiên là cửa Từ bi, nền tảng căn bản của người học Phật. Từ bi chính là khởi điểm của mọi thiện hạnh, giúp con người biết cảm thông, sẻ chia và hướng đến việc lợi lạc cho muôn loài.
Tiếp đến là cửa Hoằng thệ, gắn liền với bốn lời đại nguyện quen thuộc trong Phật giáo:
“Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ,
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.”
Bốn lời nguyện ấy không chỉ dành cho người xuất gia mà cả hàng Phật tử tại gia cũng nên phát tâm thực hành, nuôi dưỡng chí nguyện độ sinh, hoằng pháp lợi sinh và xây dựng đạo tràng ngày càng vững mạnh.
Cửa thứ 3 là Tu hành:
Học Phật không chỉ dừng ở việc hiểu giáo lý mà còn phải thực hành theo lời Phật dạy, chuyển hóa tự thân và khuyến hóa mọi người cùng hướng thiện.
Ba cửa Từ bi – Hoằng thệ – Tu hành chính là những nhân duyên căn bản trên con đường giác ngộ.


Cửa Đoạn hoặc thứ 4, nghĩa là nỗ lực đoạn trừ phiền não, giữ tâm thanh tịnh và kiên định với chính pháp, không để những điều thị phi làm dao động tâm mình.
Cửa thứ năm là Nhập pháp môn, tức là kiên tâm thực hành pháp môn tu học đã chọn, nuôi dưỡng từ bi và trí tuệ để tiến tới kết quả tốt đẹp.
Ba cửa tiếp theo gồm Thần thông – Phương tiện – Thuyết pháp, đều hướng đến mục đích lợi tha.
“Thần thông” ở đây được hiểu là cảm nhận sâu sắc về sự chứng đắc, nhiệm màu, cảm ứng của Phật pháp trong đời sống của bản thân; “Phương tiện” là tùy duyên hóa độ chúng sinh nhưng vẫn giữ tâm thanh tịnh, không vấn tưởng thế tục; Còn “Thuyết pháp” không chỉ là trách nhiệm của người xuất gia mà cả hàng Phật tử tại gia cũng cần chia sẻ, lan tỏa giáo pháp theo đúng chính đạo. Hòa thượng nhắc lại câu nói quen thuộc: “Linh tại ngã, bất linh tại ngã”, nghĩa là sự linh ứng trước hết nằm ở nơi tâm mỗi người.
Cửa thứ chín là Cúng dường, không chỉ dừng ở hình thức dâng lễ vật mà còn là sự nuôi dưỡng và làm lớn mạnh tâm Bồ-đề, hướng đến đời sống tu học cao thượng và bền vững. Điều này cũng gợi nhắc đến những hạnh nguyện trong Kinh Hoa Nghiêm như:
“Nhất giả lễ kính chư Phật,
Nhị giả xưng tán Như Lai,
Tam giả quảng tu cúng dường.”
Cửa cuối cùng là Thành tựu chúng sinh, nghĩa là khi đảm nhận trọng trách trong đạo pháp, các bậc tôn đức càng phải lấy hạnh nguyện độ sinh làm sự nghiệp, đem tâm từ bi và trí tuệ phụng sự cho đời, mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng.



Khép lại thời pháp thoại, Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm nhắn nhủ rằng hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm không phải là điều gì xa vời, mà chính là con đường tu tập thiết thực cho mỗi người con Phật trong đời sống hôm nay. Mỗi Phật tử khi trở về nương tựa Tam bảo cần nuôi dưỡng tâm từ bi, phát khởi đại nguyện, tinh tấn tu tập và biết lắng nghe, chia sẻ với những khổ đau của người khác. Khi mỗi người biết mở rộng tấm lòng, chuyển hóa tham – sân – si và sống bằng tình thương cùng trí tuệ, thì hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm cũng sẽ được tiếp nối ngay giữa cuộc đời.
Hòa thượng mong rằng, qua pháp hội này, mỗi Phật tử không chỉ dừng lại ở sự chiêm bái hay cầu nguyện, mà còn biết quay về tu dưỡng thân tâm. Khi tâm thanh tịnh, lòng từ được khơi dậy, thì ánh sáng từ bi của Bồ Tát Quán Thế Âm cũng sẽ hiện hữu trong chính đời sống của mỗi người, góp phần xây dựng gia đình an lạc, xã hội hòa hợp và làm cho Phật pháp ngày càng được lan tỏa bền vững giữa cuộc đời.
Sau đó, Thượng tọa Thích Đạo Thịnh – UV HĐTS, Phó Chánh Văn phòng I Trung ương GHPGVN, Trưởng Ban Thông tin Truyền thông GHPGVN TP. Hà Nội, Trụ trì chùa Khai Nguyên đã có lời tác bạch khánh tuế tri ân thời pháp thoại ý nghĩa mà Hòa thượng Trưởng Ban Hoằng pháp TW vừa truyền trao. Đồng thời, Thượng tọa cũng chia sẻ khái lược về tiến trình hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam suốt hơn 2000 năm lịch sử. Trong dòng chảy bền bỉ ấy, nhiều bậc tôn đức Tăng Ni không chỉ dấn thân phụng sự đạo pháp mà còn đồng hành cùng đời sống xã hội, đóng góp trí tuệ và tâm lực trong nhiều cương vị khác nhau như tại Quốc hội, UBMTTQVN, HĐND các cấp, qua đó góp phần lan tỏa các giá trị nhân văn, hướng đến một xã hội an hòa, công bằng và giàu tình người.



Nhân dịp này, Thượng tọa cùng chư Tăng Ni bản tự và đông đảo Phật tử đã bày tỏ lòng tri ân sâu sắc tới Hoà thượng Thích Bảo Nghiêm. Dù đảm nhiệm nhiều trọng trách trong cả công tác Phật sự và các hoạt động xã hội, từng tham gia Quốc hội Việt Nam qua ba nhiệm kỳ khóa XIII, XIV, XV và tiếp tục tham gia ứng cử khóa XVI tới đây, Hòa thượng vẫn hoan hỷ dành thời gian quang lâm chia sẻ những lời pháp ý nghĩa, thiết thực và gần gũi, sâu lắng trong lòng Phật tử và nhân dân tham dự. Đó không chỉ là nguồn khích lệ tinh thần quý báu mà còn khơi gợi niềm tin và sự tinh tấn trên con đường tu học, nguyện cầu cho bản thân, gia đình và xã hội luôn được bình an, để những giá trị thiện lành tiếp tục được lan tỏa trong đời sống.







